Rốt ráo gỡ vướng thể chế sau dịch Covid-19
Gỡ vướng thủ tục, xúc tiến nhận tiền khoản vay vốn đầu tư công là nhiệm vụ cấp chưngh sau dịch Covid-một9 (Trong ảnh: Đường Vành đngười nào 3 trên cao đoạn Mngười nào Dịch – Nam Thăng Long là một trong ít dự án ko bị giới hạn thi công do dịch Covid-một9). Ảnh: Dũng Minh

Mục đích chính của tổ công việc nhằm nguy cấp xoá bỏ những vướng mắc, cản trở sản xuất, kinh doanh. Đây là bước đi quan yếu để lúc kết thúc dịch bệnh, doanh nghiệp với thể bứt phá, phát triển…

DN phải tự “mò mẫm”

Phản ánh từ góc độ doanh nghiệp, bà Mngười nào Thị Thủy, Giám đốc Công ty Cao dược liệu Định Sơn Mngười nào Thị Thủy (Quảng Trị) cho biết, vấn đề doanh nghiệp dành sự quan tâm nhiều nhất là thời kỳ rà soát chất lượng sản phẩm.

Theo bà Thủy, là DN sản xuất những loại cao dược liệu từ những loại cây, việc test chất lượng sản phẩm mất rất nhiều thời kì tìm hiểu vì ko biết phải test ở đâu, gửi mẫu ở đâu, làm giđấy tờ như thế nào. “Hầu hết DN đều rúng túng ở khâu này bởi văn bản hướng dẫn thì vô vàn, ko biết nên đọc văn bản nào. Người thì bảo phải gửi mẫu ra Sở Y tế, người bảo gửi ra Cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng, người khác lại bảo phải gửi lên Bộ Y tế. Nguyên nhân chính là do nhiều danh mục ko được quy định rõ, hướng dẫn chung chung. Do đó, phải mất nhiều thời kì và mức giá cho khâu trung gian”, bà Thủy nêu thực tế.

Đồng quan niệm trên, bà Thu Hương, Phó giám đốc HTX Nông sản và Dược liệu Mạnh Hương (Lào Cngười nào) cũng cho rằng, khó khăn nhất chính là khâu tìm tiêu chuẩn cho sản phẩm để lưu hành trên thị trường. Theo bà Hương, việc này cần được hướng dẫn cụ thể ngay tại địa phương, từ khâu đưa sản phẩm đi test tới khâu hoàn thiện giđấy công bố, sau đó là cần những giđấy tờ đề nghị gì.

Từ góc độ một DN xuất khẩu, vốn đã rất khó khăn trong quá trình hoàn thiện thủ tục truy xuất nguồn gốc để xuất khẩu chính ngạch đi Trung Quốc hay tiếp cận tiêu chuẩn những nước với thể xuất khẩu sang, bà Nguyễn Thị Diễm Hằng, Phó tổng giám đốc Công ty CP Vinapharma Group dẫn chứng: Khi tổ chức muốn xuất khẩu sang Trung Quốc mặt hàng trà, rau củ quả, sau lúc tìm hiểu khắp những văn bản hướng dẫn vẫn ko biết mình phải chuẩn bị gì, cuối cùng bà quyết định cho viên chức sang cửa khẩu Đông Hưng, Trung Quốc ăn ở hàng tháng ròng rã để tìm hiểu, cuối cùng mới hoàn thiện được những thủ tục với số tiền bỏ ra hàng trăm triệu đồng.

Trước thực tế đó, bà Hằng kiến nghị, cần xây dựng hệ thống văn bản hướng dẫn rõ ràng, chi tiết để tháo gỡ khó khăn cho DN, ko để xảy ra tình trạng DN tự đi mò mẫm, lãng phí thời kì và tiền nong…

Thay đổi nhữngh thức rà soát

Thủ tục rà soát chuyên nghình đã được nhiều DN kiến nghị phải giảm bớt để giảm thời kì thông quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu (Ảnh minh họa)

Đón nhận thông tin Tổ công việc Thủ tướng về rà soát văn bản quy phạm pháp luật vừa được thành lập, bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Môi trường kinh doanh và Năng lực khó khăn, Viện Quản lý kinh tế TƯ (CIEM) cho rằng, đây là việc rất cần thiết.

“Trước đó ít nhiều những bất cập đã được nhìn thấy rồi, song chúng ta chỉ quan tâm nhiều tới thủ tục với tính chất riêng lẻ mà chưa thực sự quan tâm tới bất cập giữa những thủ tục với nhau. Trong bối cảnh hiện nay, điều quan yếu nhất là phải nhanh hao chóng gỡ bỏ, thuần tuý hóa những thủ tục đang là rào cản để cứu DN, ít nhất để họ tồn tại đã. Khi dịch được đẩy lùi, môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, những thủ tục điều kiện kinh doanh, thủ tục chuyên nghình được giảm bớt, họ mới với sức để “bật lên như lò xo bị nén”, bà Thảo nói và cho rằng, Tổ công việc cũng cần với một hàng ngũ chuyên gia tương trợ, tư vấn để với thể xử lý nhanh hao được những vấn đề.

Theo ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam – VCCI, những bất cập của những quy định trong hệ thống pháp luật kinh doanh đã được cùng đồng doanh nghiệp cũng như cơ quan nhà nước phản ánh trong suốt thời kì qua. Dù việc rà soát vẫn được tiến hành hàng năm, song tới nay rất nhiều xung đột, vướng mắc, chồng chéo vẫn được chỉ ra. Điều này cho thđấy cần phải thẩm định lại tính hiệu quả của hoạt động này và thay đổi nhữngh thức rà soát.

Ông Tuấn cũng lưu ý, vướng mắc về pháp luật ko chỉ là quy định trái ngược nhau mà còn liên quan tới thực tiễn vận dụng, từ nhữngh hiểu ko thống nhất, chưa chuẩn xác. Nhưng suy tới cùng thì hiện tượng này cũng cho thđấy những quy định của pháp luật chưa thực sự đủ rõ ràng hoặc quá phức tạp. “Ví dụ, thuần tuý như sử dụng khái niệm “nhà đầu tư”, “chủ đầu tư”, nghe thì với vẻ thuần tuý, dễ hiểu, nhưng thực tế trong những văn bản pháp luật lại sử dụng khái niệm này khác nhau, dẫn tới nhữngh hiểu và nhữngh vận dụng khác nhau của chính quyền địa phương. Hậu quả là hàng loạt dự án bị ách tắc”, ông Tuấn dẫn chứng.

Theo ông Tuấn, trong bối cảnh dịch bệnh như hiện nay, cùng đồng doanh nghiệp, đặc trưng là những doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ đang đứng trước thách thức rất to. Vì thế, hoạt động rà soát văn bản quy phạm pháp luật, trong đó trọng tâm nhằm tháo gỡ những nút thắt chồng chéo, bất cập trong hệ thống pháp luật kinh doanh là một trong những giải pháp với tính căn cơ, trong tương lai, tạo thuận lợi cho môi trường kinh doanh, tương trợ doanh nghiệp phát triển.

Kịp thời ứng phó, hạn chế tạo động của dịch Covid-một9

Trao đổi với Báo Giao thông, ông Đồng Ngọc Ba – Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp (đơn vị túc trực của Tổ công việc) cho biết, về tổng thể, hệ thống pháp luật nước ta đã tương đối đầy đủ, điều chỉnh toàn diện những ngành nghề của đời sống kinh tế – xã hội.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, hệ thống pháp luật vẫn còn những hạn chế, nhất là vẫn còn những quy định tranh chấp, chồng chéo, ko thích hợp thực tiễn chưa được kịp thời khắc phục. Trước thực tế đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch rà soát văn bản thuộc ngành nghề quản lý nhà nước của những bộ, cơ quan ngang bộ; thành lập Tổ công việc của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản quy phạm pháp luật gồm 3một thành viên là lãnh đạo những bộ, nghình, cơ quan T.Ư, trong đó Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long là Tổ trưởng.

Nhiệm vụ trọng tâm của Tổ Công tác là rà soát những văn bản quy phạm pháp luật với nội dung tranh chấp, chồng chéo, ko thích hợp thực tiễn, gây khó khăn, kìm hãm sự phát triển; kịp thời kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ những giải pháp, chỉ đạo sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Ngày hngười nào8/3 vừa qua, dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình, Tổ công việc đã họp phiên trước hết, trong đó đã thảo luận để xác định những nhóm văn bản quy phạm pháp luật cần rà soát để sửa đổi, bổ sung.

Theo dự kiến, trong năm hngười nào0hngười nào0, Tổ công việc sẽ rà soát chuyên sâu những nhóm văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp tới đầu tư kinh doanh như: Điều kiện gia nhập thị trường, tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp; thuế; quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào kinh doanh, cổ phần hóa DN nhà nước; đất đngười nào, tài nguyên, môi trường; xây dựng, kinh doanh bất động sản; rà soát chuyên nghình…

“Tổ công việc đang phườngi hợp với Bộ Tư pháp khẩn trương rà soát những quy định pháp luật để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh nhằm kịp thời ứng phó và hạn chế tạo động của dịch bệnh Covid-một9 tới nền kinh tế”, ông Ba nói và cho biết, ngày hngười nào/4, Tổ công việc đã phát hành văn bản gửi tới hơn hngười nào00 đầu mối là những cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, đề nghị phân phối thông tin cụ thể về những vướng mắc, hạn chế (tranh chấp, chồng chéo, ko thích hợp thực tiễn…) của những quy định pháp luật và đề xuất hướng hoàn thiện. Đồng thời, Tổ công việc đã xây dựng chuyên mục tiếp nhận phản ánh tại Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp.

Rà soát xong, sửa thế nào cho nhanh hao?

Trao đổi với Báo Giao thông, ông Bùi Văn Xuyền (ảnh trên), Ủy viên Thường trực Ủy ban Pháp luật Quốc hội cho biết, trước tình trạng những luật, văn bản dưới luật với nội dung chồng chéo, tranh chấp, ko khả thi, khó thực hiện trong thực tiễn, Chủ tịch Quốc hội đã giao Ủy ban Pháp luật, những ủy ban với liên quan tiến hành rà soát. Chính phủ cũng đã thành lập Tổ công việc để thực hiện công việc này.

Theo thẩm định của ông Xuyền, hệ thống văn bản pháp luật của chúng ta rất nhiều. Hiện nay Chính phủ cũng đang đề xuất ban hành những luật mới mang tính chuyên nghình, chuyên sâu về những ngành nghề. “Do hệ thống văn bản rất to nên đang xảy ra hiện tượng một số luật với quan hệ chồng chéo, tranh chấp. Ví dụ, chúng ta đang triển khngười nào những luật như: Luật Đối tác công tư (PPP); Luật Đầu tư; Luật Đầu tư công, Luật Doanh nghiệp… trong đó với nhiều điểm, quan hệ pháp luật chồng chéo”, ông Xuyền nói.

Liên quan tới vấn đề sau rà soát, phát hiện thì việc sửa đổi, bổ sung thế nào để với thể triển khngười nào ngay, ông Xuyền cho rằng, nguyên tắc lúc xây dựng pháp luật, phải rà soát những luật với liên quan để chỉnh sửa cho thích hợp với luật mới ban hành. Trong trường hợp ko sửa được ngay thì cũng phải ban hành danh mục, điều khoản nào chưa sửa được để lúc luật mới với hiệu lực thì những luật cũ cũng phải được sửa cho thích hợp, ko xung đột với luật cũ.

“Hiện Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật quy định: Khi ban hành một luật mới thì phải sửa những luật trước đó với liên quan tạo nên hệ thống pháp luật thống nhất, ko tranh chấp, chồng chéo, trong trường hợp hngười nào luật quy định khác nhau thì phải thực hiện luật sau. Chúng ta với thể vận dụng cho phép ưu tiên thực hiện đặc thù của luật mới ban hành, ko phải sửa luật cũ nhưng chỉ cho phép thực hiện ở một số ngành nghề, quan hệ pháp luật nhất định”, ông Xuyền cho hay.

Việt Hòa (Ghi)

Quy định chồng chéo cản trở PPP liên lạc

Một số thông số tài chính như tiền lãi vốn vay, mức lợi nhuận cho nhà đầu tư… hiện chỉ quy định ở mức thông tư, chưa thu hút được nhà đầu tư PPP liên lạc

Trao đổi với Báo Giao thông, ông Nguyễn Viết Huy, Phó vụ trưởng Vụ Đối tác công – tư (PPP, Bộ GTVT) cho biết, trong ngành nghề đầu tư hạ tầng liên lạc theo hình thức PPP hiện nay đang tồn tại nhiều quy định, văn bản quy phạm pháp luật chống chéo, gây cản trở cho hình thức đầu tư này.

Cụ thể, liên quan tới nội dung thẩm định tác động môi trường đối với những dự án PPP, theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường, quyết định phê duyệt báo cáo thẩm định tác động môi trường là căn cứ để cấp với thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư dự án. Tuy nhiên, Điều 35, Luật Đầu tư công nêu rõ, đối với dự án ko với cấu phần xây dựng chỉ phân tích, thẩm định sơ bộ tác động về môi trường, xã hội của dự án, còn đối với dự án với cấu phần xây dựng thực hiện theo quy định của Luật Xây dựng. Trong lúc đó, theo quy định của Luật Xây dựng, nội dung báo cáo nghiên cứu tiền khả thi chỉ “xác định sơ bộ hiệu quả KT-XH và thẩm định tác động của dự án”.

Đồng thời, Nghị định một3một ngày hngười nào5/mộthngười nào/hngười nào0một5 của Chính phủ hướng dẫn về dự án quan yếu quốc gia, nội dung thẩm định chủ trương đầu tư dự án quan yếu quốc gia cũng chỉ quy định thẩm định sơ bộ tác động tới môi trường, xã hội của dự án. “Thực tế, những số liệu được nghiên cứu, thu thập bước đầu trong nghiên cứu tiền khả thi chỉ đáp ứng yêu cầu thẩm định sơ bộ tác động môi trường, xã hội, ko khắc phục được yêu cầu thẩm định tác động môi trường theo quy định”, ông Huy nói.

Một cản trở khác về quy định của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới tiến độ huy động vốn chủ sở hữu giữa những quy định của luật hiện hành. Tại Điều 74 và Điều mộtmộthngười nào, Luật Doanh nghiệp quy định doanh nghiệp phải góp đủ vốn chủ sở hữu trong vòng 90 ngày, kể từ lúc được cấp giđấy chứng thực đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, những dự án PPP liên lạc thường với tổng mức đầu tư rất to và theo quy định, vốn chủ sở hữu chiếm tới một5 – hngười nào0phần trăm tổng mức đầu tư dự án.

“Nếu huy động vốn chủ sở hữu theo quy định của Luật Doanh nghiệp sẽ với một lượng tiền rất to ko được sử dụng và nằm trong tài khoản của doanh nghiệp dự án, dẫn tới lãng phí nguồn lực cho xã hội, vi phạm Điều 64, Luật Tiết kiệm, chống lãng phí”, ông Huy nói và cho biết thêm, việc góp vốn chủ sở hữu cần căn cứ theo tiến độ dự án để đảm bảo hiệu quả, tránh lãng phí.

Đề cập tới việc quản lý phần vốn Nhà nước trong những dự án PPP, ông Huy cho biết, theo quy định, vốn Nhà nước phải được quản lý, nhận tiền khoản vay theo đúng quy định của Luật Đầu tư công. Tuy nhiên, đối với vốn Nhà nước tương trợ thực hiện dự án PPP sẽ được xác định thông qua phương án tài chính, trên hạ tầng đảm bảo dự án khả thi về mặt tài chính. Do vậy, vốn Nhà nước sẽ được hòa chung vào dòng vốn của dự án nên ko thể quản lý, nhận tiền khoản vay theo quy định của Luật Đầu tư công.

Ngoài ra, một số thông số tài chính như: Lãi suất vốn vay, mức lợi nhuận cho nhà đầu tư… hiện chỉ quy định ở mức thông tư và chưa thích hợp với cơ chế thị trường và chưa thu hút được những nhà đầu tư tham gia đầu tư vào hạ tầng liên lạc theo hình thức PPP.

Đình Quang

News Reporter

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *